Phóng viên: Thưa ông, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2026 đã tăng 4,38%, tiệm cận mục tiêu kiểm soát lạm phát 4,5% mà Quốc hội đề ra. Ông đánh giá như thế nào về diễn biến lạm phát trong nửa đầu năm?
TS. Lê Quốc Phương: Có thể nói, lạm phát 6 tháng đầu năm 2026 đã diễn biến theo xu hướng tăng khá rõ và áp lực lạm phát đang lớn dần. CPI bình quân tăng từ 2,53% trong tháng 1 lên 4,38% vào tháng 6, trong khi lạm phát cơ bản cũng tăng từ 3,19% lên 4,12%. Điều này cho thấy áp lực tăng giá không chỉ đến từ các nhóm hàng năng lượng và lương thực - thực phẩm mà đã lan rộng sang nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ khác.
Thực tế, trong 11 nhóm hàng hóa tính CPI, hầu hết đều ghi nhận mức tăng giá. Nhóm nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng mạnh nhất với 6,72%, tiếp đến là nhóm giao thông tăng 5,23%. Chỉ có nhóm thông tin - truyền thông gần như đi ngang, giảm nhẹ 0,03%.
![]() |
| TS. Lê Quốc Phương, Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương). |
Ở góc độ thị trường, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng 6 tăng 12,9% so với cùng kỳ, nếu loại trừ yếu tố giá vẫn tăng 7,3%. Đây là mức tăng khá cao, phản ánh nhu cầu tiêu dùng trong nước đang phục hồi mạnh sau nhiều năm chịu ảnh hưởng của dịch bệnh, đồng thời cũng tạo thêm áp lực cầu kéo đối với lạm phát.
Nhìn chung, diễn biến thị trường trong 6 tháng đầu năm cho thấy lạm phát năm 2026 chịu tác động đồng thời của cả yếu tố chi phí đẩy và cầu kéo. Đây là tín hiệu cho thấy mục tiêu kiểm soát lạm phát trong cả năm sẽ gặp nhiều thách thức hơn so với các năm trước.
Phóng viên: Theo ông, đâu là những yếu tố đang tạo áp lực lớn nhất đối với lạm phát năm 2026?
TS. Lê Quốc Phương: Áp lực lạm phát năm nay đến từ cả yếu tố bên ngoài lẫn những nguyên nhân nội tại của nền kinh tế.
Về bên ngoài, yếu tố lớn nhất là giá năng lượng thế giới tăng mạnh do xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran. Sau khi Iran phong tỏa eo biển Hormuz- tuyến vận chuyển khoảng 20% lượng dầu thô toàn cầu nguồn cung năng lượng bị gián đoạn, khiến giá dầu WTI bình quân tăng từ 65,39 USD/thùng năm 2025 lên khoảng 97,84 USD/thùng trong giai đoạn từ tháng 3 đến hết tháng 6/2026, tương đương mức tăng gần 50%. IMF cũng dự báo giá dầu thế giới năm 2026 sẽ tăng 21,4% và giá hàng hóa phi nhiên liệu tăng khoảng 21,7% so với năm trước.
Đối với Việt Nam, là quốc gia nhập khẩu ròng năng lượng, phải nhập khoảng 30% nhu cầu xăng dầu thành phẩm, nhập dầu thô cho hai nhà máy lọc dầu và khoảng 50% nhu cầu khí LPG, nên những biến động này nhanh chóng làm tăng chi phí sản xuất, vận tải và giá hàng hóa trong nước.
Ở trong nước, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, Chính phủ đang thực hiện chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ theo hướng hỗ trợ tăng trưởng. Lãi suất được duy trì ở mức thấp, tăng trưởng tín dụng năm 2025 đạt trên 19% và năm 2026 tiếp tục được điều hành linh hoạt. Cùng với đó là việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, triển khai hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn và mở rộng bội chi ngân sách lên khoảng 5% GDP.
Ngoài ra, sau 14 năm gần như liên tục xuất siêu, 6 tháng đầu năm 2026 Việt Nam đã nhập siêu 16,65 tỷ USD. Nhập siêu tạo áp lực lên tỷ giá, trong khi tỷ giá ở mức cao cũng làm tăng chi phí nhập khẩu và góp phần gây sức ép lên lạm phát. Bên cạnh đó, tâm lý kỳ vọng lạm phát của doanh nghiệp và người dân cũng có xu hướng gia tăng, khiến áp lực tăng giá càng rõ nét hơn.
Phóng viên: Với những yếu tố đó, ông dự báo như thế nào về lạm phát trong cả năm 2026?
TS. Lê Quốc Phương: Theo tôi, mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4,5% trong năm nay sẽ gặp rất nhiều thách thức.
Hiện nay, bên cạnh những yếu tố gây áp lực, nền kinh tế vẫn có một số điều kiện thuận lợi như kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, nguồn cung hàng hóa và lương thực - thực phẩm khá dồi dào, góp phần hạn chế những cú sốc lớn về giá cả.
Tuy nhiên, khi tổng hợp cả các yếu tố thuận lợi và bất lợi, áp lực tăng giá vẫn chiếm ưu thế. Giá dầu và nguyên liệu đầu vào trên thế giới vẫn ở mức cao, chính sách kích thích tăng trưởng tiếp tục được triển khai, tiêu dùng trong nước phục hồi mạnh, trong khi lạm phát cơ bản liên tục tăng trong nhiều tháng.
Vì vậy, tôi cho rằng lạm phát trong những tháng cuối năm nhiều khả năng vẫn sẽ tiếp tục tăng. Nếu các yếu tố bất lợi không được kiểm soát tốt, lạm phát bình quân cả năm có khả năng vượt mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đã đề ra.
Phóng viên: Theo ông, Chính phủ cần ưu tiên những giải pháp gì để vừa kiểm soát lạm phát, vừa bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế?
TS. Lê Quốc Phương: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải phối hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
Trước hết, không nên đồng thời nới lỏng mạnh cả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Trong bối cảnh hiện nay, nên tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có kiểm soát để hỗ trợ tăng trưởng, đồng thời điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá.
Đối với các mặt hàng do Nhà nước quản lý như điện, dịch vụ y tế và giáo dục, cần thực hiện nguyên tắc “3 không”: không điều chỉnh giá đồng thời ở nhiều địa phương; không tăng giá với biên độ lớn; và không tăng giá vào thời điểm thị trường đang biến động mạnh.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, lương thực, thực phẩm và nhà ở; tăng cường ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý thị trường để phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá và vi phạm quy định về giá.
Về dài hạn, giải pháp căn cơ vẫn là đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa nhiều hơn vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực. Khi nền kinh tế giảm dần sự phụ thuộc vào tăng vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, áp lực lạm phát sẽ được kiểm soát bền vững hơn, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế ổn định trong những năm tới.
Nguồn: tapchikinhtetaichinh.vn











