Đây không phải định hướng hoàn toàn mới, mà là bước cụ thể hóa các chủ trương đã được xác lập trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị.
Vấn đề trọng tâm hiện nay là thu hẹp khoảng cách giữa quyết sách và năng lực tổ chức thực hiện, nhất là về thể chế, kinh tế số, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, giá trị gia tăng công nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực.
Từ bước chuyển chiến lược đến yêu cầu thực thi
Sáng 20-7-2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khai mạc tại Hà Nội. Trong phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các quyết sách của Hội nghị phải chuyển những định hướng chiến lược mà Đại hội XIV đã xác định thành các quyết sách cụ thể, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo năng lực phát triển mới cho đất nước.
Trong 4 bước chuyển chiến lược được nêu, bước chuyển thứ ba là chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Bước chuyển này tiếp nối yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới được đặt ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 17-11-2022, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”; được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và cụ thể hóa qua hệ thống nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển kinh tế tư nhân; bảo đảm an ninh năng lượng; phát triển giáo dục và đào tạo; phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nội hàm của mô hình mới là giảm dần sự phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ; chuyển sang dựa chủ yếu vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và quản trị hiện đại.
Các cấu phần này không vận hành tách rời. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chuyển hóa tri thức thành năng suất; thể chế tạo hành lang cho các nguồn lực vận động; giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực; các khu vực kinh tế tổ chức vốn, công nghệ và quản trị thành năng lực sản xuất thực tế.
“
Kiến trúc chính sách đã được hình thành tương đối đồng bộ; thành công phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tổ chức thực hiện, từ thể chế hóa mục tiêu, phân bổ nguồn lực, phát triển công nghệ và nhân lực đến phối hợp các khu vực kinh tế.
TS Lê Minh Nghĩa
Vì vậy, khả năng thực hiện bước chuyển thứ ba cần được xem xét trên 3 tầng gắn kết với nhau. Tầng thứ nhất là định hướng và mục tiêu phát triển; tầng thứ hai là các điều kiện nền, gồm thể chế, năng lượng, nhân lực và công nghệ; tầng thứ ba là các chủ thể tổ chức nguồn lực, gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Định hướng đúng nhưng thiếu điều kiện nền sẽ không tạo được năng suất; điều kiện nền được cải thiện nhưng thiếu cơ chế phối hợp giữa các khu vực kinh tế sẽ khó chuyển hóa nguồn lực thành giá trị gia tăng nội địa.
Khoảng cách lớn nằm ở chất lượng tăng trưởng
Sáu tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất cùng kỳ trong 16 năm qua. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,23%, tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng.
Kết quả này cho thấy nền kinh tế có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Tuy nhiên, các chỉ báo phản ánh trực tiếp mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người vẫn còn khoảng cách đáng kể so với mục tiêu năm 2030.

Tri thức, sáng tạo và công nghệ - 3 trụ cột để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045_Ảnh: vneconomy
Theo số liệu được tác giả tổng hợp từ các nghị quyết, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và báo cáo thống kê, đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2025 ước khoảng 47%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là trên 55%.
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong tổng sản phẩm trong nước đạt 14,02% năm 2025, còn cách xa mục tiêu khoảng 30%. Chi cho nghiên cứu và phát triển mới tương đương khoảng 0,42% - 0,55% tổng sản phẩm trong nước, trong khi Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu 2% vào năm 2030.
Giá trị gia tăng công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân đầu người ước khoảng 1.200 USD - 1.250 USD, thấp hơn mục tiêu trên 2.000 USD. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 29,2%, trong khi mục tiêu là 35% - 40%.
Những con số trên cho thấy, khoảng cách lớn nhất không nằm ở quy mô hay tốc độ tăng trưởng, mà ở chất lượng tăng trưởng. Các chỉ tiêu về kinh tế số, nghiên cứu và phát triển, giá trị gia tăng công nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực đều đo trực tiếp năng lực tạo ra năng suất, tri thức và công nghệ.
Nếu chỉ tiêu về lượng có thể được cải thiện khi duy trì nhịp độ tăng trưởng thì chỉ tiêu về chất đòi hỏi thay đổi sâu hơn trong thể chế, cơ cấu đầu tư, năng lực doanh nghiệp và tổ chức thị trường lao động.
Điểm nghẽn đầu tiên là thể chế chưa theo kịp yêu cầu kiến tạo phát triển. Việc thể chế hóa các chủ trương về kinh tế số, dữ liệu và đổi mới sáng tạo vẫn chậm hơn tốc độ thay đổi công nghệ.
Điểm nghẽn thứ hai là kinh tế số phát triển chưa đồng đều, nhất là ở khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
Điểm nghẽn thứ ba là đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thấp cả về quy mô và cơ cấu, trong khi doanh nghiệp chưa thực sự trở thành chủ thể chính của hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Cùng với đó, giá trị gia tăng công nghiệp chế biến, chế tạo còn thấp, phản ánh tình trạng phụ thuộc vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu và công nghệ lõi. Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu về khối lượng xuất khẩu, nhưng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong nhiều sản phẩm còn hạn chế.
Chuyển dịch cơ cấu lao động cũng diễn ra chậm; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ và tốc độ dịch chuyển lao động khỏi khu vực có năng suất thấp chưa đáp ứng yêu cầu của mô hình phát triển mới.
“
Các điểm nghẽn này có mẫu số chung là đều thuộc tầng điều kiện nền và tầng tổ chức nguồn lực. Điều đó cho thấy vấn đề chủ yếu hiện nay không phải thiếu định hướng, mà là năng lực biến các định hướng đã có thành chương trình, nguồn lực, sản phẩm và kết quả cụ thể.
TS Lê Minh Nghĩa
Tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn thực thi
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu mỗi nghị quyết, kết luận phải được cụ thể hóa ngay thành chương trình, kế hoạch hành động, bảo đảm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ kết quả.
Đây cần được xem là khung hành động để tổ chức thực hiện bước chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người.
Một là, thể chế hóa mô hình tăng trưởng mới thành hệ chỉ tiêu vận hành và cơ chế giám sát định kỳ. Bên cạnh các chỉ tiêu đích, cần xây dựng các chỉ báo dẫn dắt, như đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp, tỷ trọng chi cho nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp, mức độ số hóa theo ngành và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa.
Các chỉ tiêu cần được theo dõi theo quý, gắn với trách nhiệm giải trình của người đứng đầu bộ, ngành, địa phương và kết quả đầu ra cụ thể.
Hai là, tạo chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế số và đầu tư khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Cần có cơ chế tài chính đủ mạnh để tăng nhanh chi cho nghiên cứu và phát triển của khu vực doanh nghiệp; đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh số hóa hoạt động quản trị, sản xuất, phân phối và thanh toán.
Phát triển kinh tế số không chỉ là mở rộng hạ tầng, mà phải làm tăng năng suất và giảm chi phí trong từng ngành, từng doanh nghiệp.
Ba là, phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với cụm ngành và nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Đào tạo lại, đào tạo nghề cần tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ số, dữ liệu, năng lượng và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Việc phân bổ nguồn lực đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và định hướng phát triển ngành, thay vì chủ yếu dựa vào khả năng cung ứng của cơ sở đào tạo.
Bốn là, tăng cường liên kết giữa kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để nâng giá trị gia tăng nội địa, khắc phục tình trạng gia công, lắp ráp. Thu hút đầu tư nước ngoài cần gắn chặt hơn với chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung cấp trong nước và hình thành các cụm liên kết ngành.
Kinh tế tư nhân cần được hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, công nghệ và tiêu chuẩn để tham gia sâu hơn vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao của chuỗi cung ứng.
Năm là, phát triển thị trường vốn dài hạn để huy động nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Mô hình phát triển mới đòi hỏi nguồn vốn trung, dài hạn quy mô lớn, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng.
Cần phát huy vai trò của thị trường vốn, các quỹ đầu tư và hoạt động tư vấn tài chính chuyên nghiệp; đồng thời, nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý tài chính của người dân và doanh nghiệp để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực xã hội.
Chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người là bước chuyển có tính quyết định đối với mô hình tăng trưởng mới.
Kiến trúc chính sách đã được hình thành tương đối đồng bộ; thành công phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tổ chức thực hiện, từ thể chế hóa mục tiêu, phân bổ nguồn lực, phát triển công nghệ và nhân lực đến phối hợp các khu vực kinh tế.
Kết quả cuối cùng phải được đo bằng chuyển biến thực chất của năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh, chứ không chỉ bằng số lượng văn bản được ban hành./.
Nguồn: hssk.tapchicongsan.org.vn












